Tiến trình hiệp hành: Canh Tân Đặc Sủng - 90 năm sứ mạng Cộng đoàn Bác ái (Foyer de Charité)

Tiến trình hiệp hành: Canh Tân Đặc Sủng - 90 năm sứ mạng Cộng đoàn Bác ái (Foyer de Charité)

Tiến trình hiệp hành: Canh Tân Đặc Sủng - 90 năm sứ mạng Cộng đoàn Bác ái (Foyer de Charité)

Suy tư cho dịp mừng 90 năm

thành lập Foyer de Charité (Cộng đoàn Bác ái) 

I. Lược sử 90 năm FdC

Công trình các Foyers de Charité bắt nguồn từ chính mầu nhiệm Tình yêu Cứu độ của Thiên Chúa, được tỏ lộ trọn vẹn nơi Đức Giêsu Kitô – nguồn mạch mọi ân sủng, ánh sáng và tình yêu cho nhân loại. Trong dòng lịch sử tình yêu ấy, điều này được cụ thể hóa cách sống động qua cuộc đời của Chị Marthe Robin.

Được kết hợp sâu xa với Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh, chị đã sống một đời cầu nguyện, hy sinh và hiến dâng trọn vẹn trong âm thầm. Chính trong sự kết hợp mật thiết với Thánh Tâm Chúa Giêsu, Chị đã nhận được từ Thiên Chúa một trực giác thiêng liêng về một Công trình của tình yêu: nhằm canh tân Giáo Hội và phục hưng thế giới bằng việc dẫn đưa con người trở về với nguồn mạch Tin Mừng.

Công trình này không xuất hiện ngay lập tức, nhưng được cưu mang và chuẩn bị lâu dài trong thinh lặng, qua đau khổ và lời cầu nguyện của chị. Đến ngày 10 tháng 2 năm 1936, qua cuộc gặp gỡ mang tính quyết định giữa Chị Marthe Robin và cha Georges Finet, công trình bắt đầu được thể hiện cách cụ thể.

Trong sự hiệp thông sâu xa giữa hai vị, một con đường mới được mở ra: quy tụ linh mục và giáo dân trong cùng một đời sống hiệp nhất, cầu nguyện và phục vụ. Từ đó, các Cộng đoàn Bác Ái được khai sinh như những cộng đoàn của ánh sáng, bác ái và tình yêu, đặt nền tảng trên Thánh Thể, Lời Chúa và đời sống huynh đệ.

Sứ mạng chính của công trình là tổ chức các đợt tĩnh tâm, đặc biệt là các tuần cấm phòng 6 ngày trong thinh lặng, giúp con người gặp gỡ Thiên Chúa cách cá vị, canh tân đời sống đức tin và khám phá ơn gọi của mình. Được đặt dưới sự bảo trợ của Đức Maria, công trình được Chị cảm nhận như dấu chỉ của một “Lễ Hiện Xuống mới”, một sự tuôn đổ ân sủng của Chúa Thánh Thần để đổi mới Giáo Hội và thế giới.

Sau khi được khai sinh, cộng đoàn đầu tiên được thành lập tại Châteauneuf-de-Galaure. Ngay trong năm 1936, tuần cấm phòng đầu tiên đã được tổ chức, đặt nền móng cho sứ vụ của công trình. 

Điều đáng chú ý là sự phát triển này diễn ra trong bối cảnh thế giới đầy biến động: giữa hai cuộc thế chiến và những khủng hoảng sâu sắc của nhân loại. Chính trong hoàn cảnh đó, các Cộng đoàn Bác Ái trở thành những nơi cần thiết, nơi con người có thể tìm lại bình an, chữa lành và ý nghĩa cuộc sống.

Giai đoạn từ 1948 đến 1961 là thời kỳ then chốt trong việc phát triển tại Pháp và châu Âu. Các cộng đoàn không chỉ gia tăng về số lượng, mà còn xác định rõ căn tính: là những cộng đoàn cầu nguyện, hiệp thông giữa linh mục và giáo dân, và phục vụ việc loan báo Tin Mừng qua các khóa tĩnh tâm.

Từ năm 1961, công trình bắt đầu lan rộng ra ngoài nước Pháp, với cộng đoàn đầu tiên tại Togo (châu Phi), rồi đến các châu lục khác. Các cộng đoàn thường được thành lập theo lời mời của các giám mục địa phương, cho thấy sự hiệp thông sâu sắc với Giáo Hội.

Tại Việt Nam, công trình cũng được đón nhận nhờ sự quan tâm của Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, người đã gửi linh mục sang Pháp học hỏi để phát triển các khóa tĩnh tâm tại quê hương.

Sau Công đồng Vatican II (1962–1965), Giáo Hội nhấn mạnh vai trò của giáo dân trong sứ vụ loan báo Tin Mừng. Điều này càng làm nổi bật tính tiên phong của các Cộng đoàn Bác Ái, vì ngay từ đầu, công trình đã đặt giáo dân vào trung tâm của sứ vụ.

Năm 1986, công trình chính thức được Giáo Hội công nhận là Hiệp hội tư của người giáo dân mang tư cách quốc tế. Đến nay, các cộng đoàn hiện diện trên nhiều châu lục, với hàng chục cộng đoàn trên toàn thế giới.

Đặc sủng của Cộng đoàn Bác Ái là sự hiệp thông và bổ túc cho nhau giữa hai chức tư tế: chức tư tế thừa tác của linh mục và chức tư tế phổ quát của giáo dân, trong chức tư tế duy nhất của Đức Kitô. Tất cả cùng nhau tạo nên một gia đình của Thiên Chúa nơi trần thế, theo mẫu gương gia đình Nazareth.

Linh đạo của cộng đoàn đặt nền trên Thánh Thể, Lời Chúa, đời sống huynh đệ và sự tận hiến qua Đức Maria, theo tinh thần của thánh Louis-Marie Grignion de Montfort. Trong sứ vụ, linh mục rao giảng bằng lời, còn các thành viên rao giảng bằng đời sống và phục vụ.

Các đợt tĩnh tâm là trung tâm của đời sống cộng đoàn. Qua đó, hàng triệu người đã gặp gỡ Thiên Chúa, hoán cải đời sống, khám phá ơn gọi và tìm lại ý nghĩa cuộc sống. Có thể nói, các Cộng đoàn Bác Ái là những “trường học đức tin” và là “gia đình Giáo Hội” cho mọi thành phần dân Chúa.

Tuy nhiên, như mọi thực tại trong Giáo Hội, công trình cũng trải qua những thử thách, đặc biệt là các khủng hoảng nội bộ và nhu cầu canh tân. Nhưng chính những thử thách này trở thành cơ hội để thanh luyện và trở về với đặc sủng nguyên thủy.

Ngày nay, trong một thế giới đầy bận rộn và thiếu chiều sâu nội tâm, sứ vụ của các Cộng đoàn Bác Ái càng trở nên cấp thiết. Công trình được mời gọi tiếp tục là nơi gặp gỡ Thiên Chúa, nơi chữa lành tâm hồn và đào luyện những chứng nhân Tin Mừng.

Như Bản văn sáng lập đã nói: từ một căn phòng nhỏ nơi chị Marthe Robin sống âm thầm, công trình đã lan rộng khắp thế giới.

Ân sủng hoạt động trong yếu đuối, biến đổi con người và làm nên một sứ vụ vượt thời gian. Chính ân sủng ấy tiếp tục dẫn dắt công trình bước vào tương lai, trong niềm hy vọng và sự tín thác trọn vẹn vào Thiên Chúa.

II. 90 năm thành lập Foyer de Charité (FdC), chúng ta ở vào một thời điểm đưa đến nhiều suy tư: vừa dày dạn, lớn lao, vừa bị thách thức khi đối diện với tương lai.

Những cơn khủng hoảng của FdC với những mức độ nặng nhẹ khác nhau tuỳ nơi, không phải là chuyện đơn lẻ của Công Trình, nhưng nằm trong cơn khủng hoảng lớn hơn mà Giáo Hội đang trải qua và đang phân định và thanh luyện chính mình. Dó đó, chúng ta cùng đi theo cách thức mà Giáo Hội đối diện với cuộc khủng hoảng hiện nay.

III. Những thách thức trong dòng lịch sử Giáo Hội luôn là thời điểm để tìm hiểu kỹ lưỡng hơn, phân định để thanh luyện và xác tín mạnh mẽ hơn về đặc sủng của mình.

Việc canh tân đặc sủng trong Giáo Hội luôn bao gồm 2 bước:

- Trở về nguồn để xác tín đâu là điều cốt lõi của đặc sủng và luôn trung thành với đặc sủng.

- Suy tư để tìm cách làm cho đặc sủng ấy được phát triển trong những bối cảnh mới của thời đại mình đang sống.

IV. Chính Giáo Hội cũng ở vào thời điểm của những thách thức tương tự. Và vì thế, ý tưởng của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI vẫn đáng cho chúng ta suy nghĩ về Giáo Hội và về chính mình: Giáo Hội là hạt cải bé nhỏ nhưng đồng thời cũng là cây cải lớn để chim chóc đến nương mình.

- Suy tư về điều được gọi là lớn lao hay nhỏ bé, thành công hay thất bại cần được suy tư lại dưới cái nhìn của đức tin, bởi vì hai cái nhìn trần thế và thần linh nhiều phen không trùng khớp với nhau.

- Cây lớn được nhìn như là nơi chốn mà người ta có thể đến nương mình. Điều này rất phù hợp với linh đạo FdC về đời sống cộng đoàn như một gia đình của Thiên Chúa dành cho các thành viên và dành cho những người đến với Ngôi Nhà Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Chúng ta thực sự làm cho cộng đoàn mình trở thành một gia đình, trở thành nơi cho chính các thành viên cảm nhận là nhà mình khi thấy đây chính là nơi nương mình.

Từ điều ấy đưa đến hệ quả là chính cộng đoàn, mỗi thành viên cũng toả hơn ấm thu hút người khác đến nương mình qua các cuộc tĩnh tâm - cấm phòng, qua việc tiếp đón dưới nhiều hình thức khác nhau.

Khi ấy, từ ngữ “foyer” như lò lửa, như tổ ấm, như gia đình được làm rõ bằng chứng tá đời sống của các thành viên trong chiều kích cá nhân và cộng đoàn.

Nhưng ở đâu ra điều l‎ý tưởng ấy? Chính tôi, chính mỗi người chúng ta phải làm nên gia đình của chính mình và làm nên sứ vụ khi sống như một gia đình thực sự của Thiên Chúa.

Đây chính là khát vọng của chính GH cho mình, muốn mình trở thành gia đình của Thiên Chúa: “gia đình nơi Thiên Chúa cư ngụ” (GH 6), “gia đình Thiên Chúa” (GH 28).

Foyer de Charité lãnh sứ mạng thể hiện khát vọng của Giáo Hội, trở thành sự thể hiện của Giáo Hội trong đời sống và trong sứ mạng của mình.